1. Các trường hợp người lao động được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động những phải báo trước
Tại khoản 1 Điều 35 BLLĐ quy định về thời gian người lao động cần báo trước đối với từng loại hợp đồng khác nhau:
– Ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
– Ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;
– Ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng;
– Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.
Các trường hợp người lao động được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động những phải báo trước
- 2. Các trường hợp người lao động được đơn phương chấm dứt hợp đồng không cần báo trước
Cũng trong Điều 35 BLLĐ quy định một số trường hợp người lao động có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần báo trước:
– Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này;
– Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 97 của Bộ luật này;
– Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động;
– Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc;
– Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật này;
– Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;
– Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Bộ luật này làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.
Từ quy định này có thể thấy rằng, pháp luật lao động đang bảo vệ quyền lợi của người lao động một cách tốt nhất. Bởi trong một quan hệ lao động thì người lao động là bên yếu thế cần được bảo vệ.
Các trường hợp người lao động được đơn phương chấm dứt hợp đồng không cần báo trước
- 3. Trách nhiệm của các bên khi chấm dứt hợp đồng lao động
Khi chấm dứt hợp đồng lao động, dù trong trường hợp nào thì các bên cũng phải thực hiện các trách nhiệm được quy định để việc chấm dứt hợp đồng đúng quy định và quy trình, cụ thể:
– Trong thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản tiền có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên. Các trường hợp được nêu tại khoản 1 Điều 48 BLLĐ có thể được kéo dài thời hạn nhưng không quá 30 ngày.
– Tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ cấp thôi việc và các quyền lợi khác của người lao động theo thỏa ước lao động tập thể, hợp đồng lao động được ưu tiên thanh toán trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị chấm dứt hoạt động, bị giải thể, phá sản.
Khi chấm dứt hợp đồng, người lao động có trách nhiệm sau:
– Bàn giao công việc và tài sản đúng và đầy đủ cho người sử dụng lao động;
– Bồi thường các khoản chi phí đào tạo, bồi thường cho những ngày không báo trước (nếu có)
– Phối hợp với người sử dụng lao động để hoàn thành thủ tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp.
Người sử dụng lao động có trách nhiệm sau đây:
– Hoàn thành thủ tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và trả lại cùng với bản chính giấy tờ khác nếu người sử dụng lao động đã giữ của người lao động;
– Cung cấp bản sao các tài liệu liên quan đến quá trình làm việc của người lao động nếu người lao động có yêu cầu. Chi phí sao, gửi tài liệu do người sử dụng lao động trả.
Trách nhiệm của các bên khi chấm dứt hợp đồng lao động
- 4. Lưu ý để hạn chế rủi ro đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật
4.1 Lý do chấm dứt
Vì đặc điểm người lao động là bên yếu thế hơn nên pháp luật lao động không yêu cầu người lao động phải có lý do để đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Nhưng pháp luật cũng ràng buộc một số trường hợp bắt buộc phải báo trước đúng thời gian quy định.
Đối với người sử dụng lao động, để đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì người sử dụng lao động phải có lý do được pháp luật quy định quy định tại khoản 1 Điều 36 BLLĐ, bao gồm:
– Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động được xác định theo tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của người sử dụng lao động. Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc do người sử dụng lao động ban hành nhưng phải tham khảo ý kiến tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở;
– Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc đã điều trị 06 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng hoặc quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.
– Khi sức khỏe của người lao động bình phục thì người sử dụng lao động xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động với người lao động;
– Do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa hoặc di dời, thu hẹp sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc;
– Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 31 của Bộ luật này;
– Người lao động đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;
– Người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên;
– Người lao động cung cấp không trung thực thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật này khi giao kết hợp đồng lao động làm ảnh hưởng đến việc tuyển dụng người lao động.
Nếu người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không thuộc các lý do trên thì người sử dụng lao động phải thực hiện các nghĩa vụ đối với người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật.
Lưu ý để hạn chế rủi ro đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật
4.2 Thời hạn thông báo
Đối với các trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng cần phải báo trước, thì người lao động phải báo trước số ngày được quy định tại khoản 1 Điều 35 BLLĐ tùy vào loại hợp đồng lao động người lao động đã ký. Nếu không báo trước thời hạn được quy định thì người lao động phải thực hiện nghĩa vụ được quy định tại Điều 40 BLLĐ.
Đối với trường hợp người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động cũng sẽ cần đáp ứng thời gian báo trước tùy từng loại hợp đồng mà người lao động đã ký. Thời gian báo trước khi người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động được quy định tại khoản 2 Điều 36 BLLĐ như sau:
– Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
– Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;
– Ít nhất 03 ngày làm việc đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng và đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này;
– Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.
Trong một thế giới đầy biến động và phức tạp, việc hiểu rõ và bảo vệ quyền của người lao động trong việc chấm dứt hợp đồng lao động là vô cùng quan trọng. Chỉ khi chúng ta đảm bảo rằng những nguyên tắc công bằng và quyền lợi được đề cao, chúng ta mới có thể xây dựng một xã hội vững mạnh và phát triển bền vững.
*******************
Cần nhận đầy đủ nội dung các công văn trên, hoặc trao đổi thêm bất kỳ nội dung nào khác, quý vị có thể liên hệ tới chúng tôi (miễn phí):
CÔNG TY TNHH KẾ TOÁN NOW
15 Hoàng Hoa Thám, Phường 06, Quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh
Email: now@now.ac.vn | Tel: 028 2269 1357