+84 28 2269 1357

now@now.ac.vn

T2 - T6 : 8h - 17h

Doanh nghiệp huy động vốn bằng vốn góp ban đầu

Trang chủ > Doanh nghiệp huy động vốn bằng vốn góp ban đầu

1. Vốn góp ban đầu là gì?
Hiện nay, theo quy định pháp luật, vẫn chưa có quy định cụ thể về khái niệm vốn góp ban đầu là gì trong hoạt động huy động vốn. Tuy nhiên, tại Khoản 18 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020 đã có khái niệm về hoạt động góp vốn chính là việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty, bao gồm góp vốn để thành lập công ty hoặc góp thêm vốn điều lệ của công ty đã được thành lập.

Từ đó, ta có thể rút ra, vốn góp ban đầu chính là phần vốn hình thành do các chủ sở hữu hoặc thành viên đóng góp khi thành lập doanh nghiệp. Trong đó, tùy từng loại hình doanh nghiệp khác nhau sẽ có các hình thức vốn góp ban đầu khác nhau.

Vốn góp ban đầu là gì?

2. Phân loại hình thức vốn góp theo loại hình doanh nghiệp

Hiện nay, theo quy định pháp luật, doanh nghiệp sẽ được chia thành các loại hình bao gồm:

– Doanh nghiệp Nhà Nước;

– Doanh nghiệp tư nhân;

– Công ty trách nhiệm hữu hạn: bao gồm Công ty TNHH một thành viên và Công ty TNHH hai thành viên trở lên;

– Công ty cổ phần;

– Công ty hợp danh.

Trong đó, tùy từng loại hình khác nhau sẽ có các hình thức vốn góp khác nhau theo quy định pháp luật.

2.1 Doanh nghiệp Nhà Nước

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 88 Luật Doanh nghiệp 2020, doanh nghiệp Nhà Nước được tổ chức quản lý dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, bao gồm:

a) Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ;

b) Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết, trừ doanh nghiệp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này.

Theo đó, đối với doanh nghiệp Nhà Nước, việc huy động vốn và hình thức vốn góp của loại hình doanh nghiệp này sẽ thông qua hình thức góp vốn của Nhà Nước. Trong đó, sẽ có 02 trường hợp:

– Thứ nhất, Nhà Nước góp 100% vốn.

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 88 Luật Doanh nghiệp 2020, Doanh nghiệp do Nhà Nước nắm giữ 100% vốn điều lệ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này bao gồm:

a) Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là công ty mẹ của tập đoàn kinh tế nhà nước, công ty mẹ của tổng công ty nhà nước, công ty mẹ trong nhóm công ty mẹ – công ty con;

b) Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là công ty độc lập do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.

– Thứ hai, Nhà Nước sẽ góp và nắm giữ trên 50% vốn.

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 88 Luật Doanh nghiệp 2020, doanh nghiệp do Nhà Nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này bao gồm:

a) Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết là công ty mẹ của tập đoàn kinh tế, công ty mẹ của tổng công ty nhà nước, công ty mẹ trong nhóm công ty mẹ – công ty con;

b) Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần là công ty độc lập do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết.

2.2 Doanh nghiệp tư nhân

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 188 Luật Doanh nghiệp 2020, doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.

Trong đó, doanh nghiệp tư nhân không được quyền góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp trong công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần.

Đối với doanh nghiệp tư nhân, theo quy định tại Khoản 1 Điều 189 Luật Doanh nghiệp 2020, khi huy động vốn bằng vốn góp ban đầu, hình thức huy động vốn sẽ được thực hiện thông qua vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân do chủ doanh nghiệp tự đăng ký.

Trong đó, chủ doanh nghiệp tư nhân có nghĩa vụ đăng ký chính xác tổng số vốn đầu tư, trong đó nêu rõ số vốn bằng Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng và tài sản khác; đối với vốn bằng tài sản khác còn phải ghi rõ loại tài sản, số lượng và giá trị còn lại của mỗi loại tài sản.

Doanh nghiệp tư nhân

2.3 Công ty trách nhiệm hữu hạn

Theo quy định pháp luật, công ty trách nhiệm hữu hạn sẽ bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên.

2.3.1 Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 74 Luật Doanh nghiệp 2020, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty). Chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.

Đối với hình thức huy động vốn bằng vốn góp ban đầu, đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, theo quy định tại Khoản 1 Điều 75 Luật Doanh nghiệp 2020, hình thức vốn góp của loại hình doanh nghiệp này sẽ là vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên khi đăng ký thành lập doanh nghiệp, cụ thể chính là tổng giá trị tài sản do chủ sở hữu công ty cam kết góp và ghi trong Điều lệ công ty.

2.3.2 Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 46 Luật Doanh nghiệp 2020, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là doanh nghiệp có từ 02 đến 50 thành viên là tổ chức, cá nhân. Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 47 của Luật này. Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định tại các điều 51, 52 và 53 của Luật này.

Về hình thức vốn góp, căn cứ theo Khoản 1 Điều 47 Luật Doanh nghiệp 2020, khi huy động vốn bằng vốn góp ban đầu, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên sẽ sử dụng hình thức vốn góp thông qua vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên khi đăng ký thành lập doanh nghiệp, đó chính là tổng giá trị phần vốn góp của các thành viên cam kết góp và ghi trong Điều lệ công ty.

2.4 Công ty cổ phần

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 111 Luật Doanh nghiệp 2020, công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:

a) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;

b) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa;

c) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;

d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 120 và khoản 1 Điều 127 của Luật này.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 112 Luật Doanh nghiệp 2020, khi huy động vốn bằng vốn góp ban đầu, hình thức vốn góp của công ty cổ phần sẽ thông qua vốn điều lệ của công ty cổ phần là tổng mệnh giá cổ phần các loại đã bán.

Trong đó, vốn điều lệ của công ty cổ phần khi đăng ký thành lập doanh nghiệp là tổng mệnh giá cổ phần các loại đã được đăng ký mua và được ghi trong Điều lệ công ty.

2.5 Công ty hợp danh

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 177 Luật Doanh nghiệp 2020, công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó:

a) Phải có ít nhất 02 thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh). Ngoài các thành viên hợp danh, công ty có thể có thêm thành viên góp vốn;

b) Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty;

c) Thành viên góp vốn là tổ chức, cá nhân và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào công ty.

Trong đó, đối với loại hình doanh nghiệp công ty hợp danh, khi huy động vốn bằng vốn góp ban đầu, hình thức vốn góp sẽ là thông qua số vốn đã góp của thành viên hợp danh và thành viên góp vốn của công ty. Trong đó:

– Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty;

– Thành viên góp vốn là tổ chức, cá nhân và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào công ty.

Công ty hợp danh

3. Ưu nhược điểm khi doanh nghiệp huy động vốn bằng vốn góp ban đầu

3.1 Ưu điểm khi doanh nghiệp huy động vốn bằng vốn góp ban đầu

3.1.1 Doanh nghiệp sẽ không cần phải hoàn trả lại số vốn góp này

Theo quy định của pháp luật, hầu hết ở các loại hình doanh nghiệp, việc huy động vốn bằng vốn góp ban đầu hầu hết đều thông qua số vốn góp của chủ sở hữu hoặc các thành viên của công ty.

Trong đó, việc góp vốn này sẽ được dựa trên tài sản, tiền bạc mà chủ sở hữu và thành viên của công ty góp vào trong quá trình thành lập doanh nghiệp và sẽ được ghi trong Điều lệ của công ty.

Do đó, khi thực hiện việc huy động vốn bằng vốn góp ban đầu, số vốn góp đó sẽ được coi là sự đóng góp của chủ sở hữu, thành viên doanh nghiệp vào tài sản của công ty, không bị coi là khoản vay bên ngoài và sẽ không cần phải hoàn trả lại.

3.1.2 Các cá nhân, tổ chức đã góp vốn sẽ được hưởng lợi nhuận dựa trên hoạt động của công ty

Theo quy định pháp luật, khi áp dụng hình thức huy động vốn bằng vốn góp ban đầu, số vốn góp sẽ được huy động dựa trên sự góp vốn của chủ sở hữu, thành viên công ty khi thành lập doanh nghiệp.

Trong đó, số vốn góp này sẽ được sử dụng vào các hoạt động của công ty và những người góp vốn sẽ được coi là thành viên của công ty tùy thuộc vào từng loại hình doanh nghiệp. Do đó, theo quy định pháp luật, khi hoạt động của công ty thuận lợi và có lợi nhuận, những cá nhân, tổ chức đã góp vốn cũng sẽ được hưởng lợi nhuận dựa trên những khoản lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt được, và mức hưởng lợi nhuận sẽ tùy vào thỏa thuận của các bên và theo quy định pháp luật.

3.2 Nhược điểm khi doanh nghiệp huy động vốn bằng vốn góp ban đầu

3.2.1 Hoạt động kinh doanh, điều hành của chủ sở hữu doanh nghiệp có thể bị thay đổi

Một trong những rủi ro lớn nhất khi áp dụng hình thức huy động vốn bằng vốn góp ban đầu chính là việc huy động vốn sẽ là nguy cơ khiến cho hoạt động kinh doanh hoặc điều hành của chủ doanh nghiệp bị thay đổi.

Cụ thể, theo quy định pháp luật, các cá nhân, tổ chức khi góp vốn vào doanh nghiệp cũng sẽ có được quyền tương đương với phần vốn góp của mình (tùy từng loại hình doanh nghiệp sẽ có những quy định cụ thể khác nhau). Từ đó, những cá nhân, tổ chức góp vốn đó sẽ có khả năng dùng quyền của mình để tác động, can thiệp vào quá trình hoạt động của công ty.

Bên cạnh đó, đối với loại hình doanh nghiệp như công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, nếu như chủ sở hữu doanh nghiệp không đủ vốn góp ban đầu và phải hủy động thêm từ cá nhân, tổ chức từ bên ngoài thì lúc đó, doanh nghiệp ấy sẽ phải đổi từ loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên sang công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên.

3.2.2 Quyền lợi của những thành viên góp vốn sẽ bị ảnh hưởng khi hoạt động doanh nghiệp không được thuận lợi

Như đã đề cập ở trên, khi thực hiện hình thức huy động vốn bằng hình thức vốn góp ban đầu, các cá nhân, tổ chức khi góp vốn sẽ được hưởng những lợi nhuận của doanh nghiệp khi hoạt động doanh nghiệp thuận lợi và có doanh thu.

Tuy nhiên, song song với đó, khi hoạt động doanh nghiệp không thuận lợi, bị thua lỗ, phần lợi nhuận mà các cá nhân, tổ chức được hưởng từ doanh nghiệp cũng sẽ bị ảnh hưởng theo, và có nguy cơ sẽ không được hưởng gì nếu doanh nghiệp không thu được lợi nhuận nào.

Từ đó, sẽ phát sinh rủi ro về việc số vốn góp của các cá nhân, tổ chức sẽ không đem lại cho họ lợi nhuận như mong muốn và đồng thời, cũng sẽ có nguy cơ số vốn ấy sẽ bị thất thoát theo những thua lỗ của doanh nghiệp.

Ưu nhược điểm khi doanh nghiệp huy động vốn bằng vốn góp ban đầu

Huy động vốn bằng vốn góp ban đầu là một trong những bước đầu tiên và quan trọng trong hành trình phát triển của doanh nghiệp. Việc lựa chọn và triển khai hình thức huy động này một cách hiệu quả sẽ góp phần không nhỏ vào thành công của doanh nghiệp trong tương lai. Vì vậy, các doanh nghiệp cần cẩn trọng và chu đáo trong quá trình thực hiện để đảm bảo một nền tảng tài chính ổn định và bền vững.

*******************

Cần nhận đầy đủ nội dung các công văn trên, hoặc trao đổi thêm bất kỳ nội dung nào khác, quý vị có thể liên hệ tới chúng tôi (miễn phí):

CÔNG TY TNHH KẾ TOÁN NOW

15 Hoàng Hoa Thám, Phường 06, Quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh

Email: now@now.ac.vn | Tel: 028 2269 1357